Bảo tồn mắm Sa Châu: bằng cách nào?
Thuộc xã Giao Châu, huyện Giao Thủy (Nam Định), làng làm nước mắm Sa Châu (cách thủ đô Hà Nội 160 km) đã có từ cách đây hơn 100 năm, với tên gọi khác là mắm làng Gồi. Giá trị đặc sản thể hiện ở chỗ 100% nước mắm nơi đây được chế biến theo phơng pháp cổ truyền: Để cá ngấu chín tự nhiên trong bể mà không sử dụng hóa chất (nhất là thời gian gần đây, ở nhiều nơi đang rộ lên phong trào dùng đạm urê để làm mắm cho lâu bền, tươi đẹp), sau sáu tháng mới vắt ra nước mắm nguyên chất. Mắm không nấu qua lửa như nhiều nơi, mà phải phơi nắng nóng thêm sáu tháng nữa, rồi chôn xuống đất thêm một năm trở lên mới mang ra ăn và bán. Mắm Sa Châu vì thế có mùi thơm, vị ngon ngọt nức tiếng. Tiếc rằng, làng mắm bây giờ đang đứng trước nguy cơ bị “chết mòn” vì sự chèn ép của hàng nghìn lò nước mắm giả đang mọc như nấm sau mưa, từ nông thôn đến thị thành; hơn thế là cảnh lớp trẻ ở Sa Châu bây giờ không còn mấy người mặn mà với nghề làm mắm của ông cha, đã phải giữ gìn qua bao năm tháng thăng trầm, vì vất vả mà
Từ thị trấn Ngô Đồng - huyện Giao Thủy hỏi thăm về làng mắm Sa Châu, mọi người đã chỉ tường tận đường đi lối lại cho chúng tôi. Điều đó chứng tỏ, làng mắm này đã vang tiếng trong vùng lắm. Cứ bước chân đến làng Sa Châu là gửi thấy mùi nước mắm dậy lên thơm phức với cảnh tượng đặc trưng là nhà nào làm sản phẩm này cũng phơi đầy chum vại, ang chậu bằng sành khắp sân gạch, trong vườn. Tuy nhiên, số nhà theo làm nghề này không còn nhiều để có thể gọi là một làng nghề. Trước đây, làng này đã từng có tới vài trăm hộ làm nghề mắm. Nhng sau đó, cứ thi nhau bỏ nghề, nên số lò cứ thưa vắng dần như hiện nay và hiện tại, nhiều gia đình cũng đang tiếp tục bỏ nghề. Chuyển sang nghề khác làm nhàn lại nhiều lời lãi. Dọc hai bên đường làng, những ngôi nhà 2-3 tầng khang trang, hiện đại chẳng khác gì phố xá. Nhiều hộ gia đình chuyển sang kinh doanh với đủ loại mặt hàng từ thức ăn, hoa quả, quần áo, tạp phẩm đến cước lưới, đồ sành sứ…
Ông Mai Văn Vụ là người làm mắm có quy mô lớn nhất ở làng này cho biết, mỗi năm, gia đình ông làm từ 8.000-10.000 lít, quy trình làm mắm tại đây phải tuân theo những quy tắc nghiêm ngặt. Nguồn nguyên liệu là cá nhỏ, tép moi phải tươi nguyên, chứ không như thuyền đánh bắt xa bờ phải đi hàng tuần, thậm chí nửa tháng mới về, cá bị ướp đá đã dập nát. Dụng cụ mà người làng dùng để gánh đội cá về gồm toàn thúng, sọt làm bằng tre. Không bao giờ họ dùng thùng tôn, nhựa… để chở cá, vì làm như thế cá sẽ bị nhiễm mùi và mất vệ sinh.
Công thức làm mắm nơi đây cũng công phu hơn nhiều nơi khác: Loại muối để ướp cá phải để một năm trở lên trong kho cho hả vị chát mới dùng được. Bắt đầu làm mắm thì cứ một tấn cá ướp với 18 kg muối trong sáu tháng liền cho cá nát, sau đó mới cho qua rổ tre lót vải xô vắt ra nước mắm nguyên chất, mắm này không nấu qua lửa như nhiều nơi, mà chỉ phơi nắng nóng thêm sáu tháng nữa. Mắm được đổ đều ra các ang mỏng chừng một gang tay, phơi tràn ra khắp sân, đêm đến lại được phơi trộn với sương cho thêm vị đậm ngọt. Đặc biệt, người làm mắm ở đây rất kiêng nước mưa rơi vào mắm, vì mắm không nấu qua lửa, nếu có nước mưa rất dễ hỏng. Mỗi lần có mưa, cả gia đình táo tác như chạy giặc, có bao nhiêu túi nilon mang hết ra che mắm, trong khi người ướt như chuột lột cũng mặc kệ. Nghề làm mắm ở đây vất vả vô cùng, trông chừng mắm cả ngày không đủ, đêm cũng phải phân công nhau chong đèn, vừa trông vừa đảo sương cho mắm. Sáu tháng vất vả cũng qua, những tưởng có thể múc mắm ra bán thì lại phải cho vào chum đem chôn xuống đất một năm trở lên… mới được coi là ăn được. Giải thích cho cách làm này, nhiều người Sa Châu cho biết, phải làm như thế mắm mới hội đủ hương vị của đất trời. Thực tế, mắm Sa Châu càng chôn lâu dưới đất càng thơm ngon. Cách làm cổ truyền này khiến mắm Sa Châu có mùi thơm, vị ngọt đậm đà vì có tỷ lệ đạm lên tới 20% (thả hạt cơm xuống bát nước mắm hạt cơm nổi lên).
Thời hưng thịnh nhất của mắm Sa Châu là cả làng có tới 300-400 hộ làm nghề. Buổi trưa và buổi chiều, cả làng rộn ràng như có hội. Người tất tả đong nước mắm cho các thương lái từ huyện, tỉnh khác về như từ Hà Nội, Vĩnh Phúc, Tuyên Quang, Yên Bái, đông nhất là người Hoà Bình… Người chuẩn bị thúng sọt, quang gánh ra bờ biển đợi các thuyền cánh dơì cập bến là vội vàng ngã giá, cân đong cá, moi, sau đó gánh về để kịp vào mẻ mắm mới. Có người thi thoảng lại chạy ra cổng ngó xem có người bán chum vào không để mua thêm vài cái ang, cái vại sành dùng phơi mắm. Thế mà giờ đây, làng mắm lại có dấu hiệu suy tàn. Cả làng cứ thi nhau bỏ nghề, chỉ còn khoảng chục gia đình làm với qui mô lớn (hàng nghìn lít/năm), hơn 20 nhà khác chỉ làm kiểu cò con ! Nhiều gia đình có hàng chục đời theo nghề làm mắm, nay cũng đập vỡ chum… giải nghệ, nước mắm dùng trong bữa ăn hàng ngày của gia đình tất nhiên phải đi mua từ nhà khác. Nguyên nhân vì lời lãi từ làm mắm chẳng đáng là bao, một tấn cá mới lãi đợc 500 nghìn đồng (cho 2-3 năm trời ròng rã vất vả làm và chờ đợi).
Ông Vụ, một người có nhiều kinh nghiệm trong nghề làm mắm tâm sự, thực ra, người Sa Châu biết rõ cách làm mắm “hiện đại” của nhiều làng mắm trong Nam cũng như ngoài Bắc, chỉ cần ủ cá một tháng đã nát, nên cả chu kỳ làm mắm chỉ mất có vài tháng, nếu sử dụng phân vi sinh ướp cá và pha hương liệu để tạo mùi hương. Nhiều loại hương liệu khi chưa pha vào nước mắm có mùi hắc chẳng khác nào… thuốc sâu. Tuy nhiên, người Sa Châu không chịu đánh mất lương tâm của mình, thà chịu bỏ nghề, chứ quyết không dùng hóa chất làm mắm.
Chính người làng Sa Châu đã nhiều lần được các ông chủ sản xuất nước mắm đóng chai tại Hà Nội “dụ” làm mắm kiểu “hiện đại”, sử dụng hóa chất rút ngắn thời gian làm mắm, vừa giảm giá thành, vừa khiến mắm có màu đẹp, mùi thơm quyến rũ hơn; song 100% ngời Sa Châu đều từ chối. Họ thà chịu tiếng là bảo thủ, lạc hậu hoặc chấp nhận bỏ nghề, còn hơn đánh mất uy tín, đi ngược lại lương tâm người công giáo!
Những người như ông Vụ, ông Hoãn đang già dần và chỉ sau vài năm nữa là họ không còn sản xuất mắm được nữa. Tuy vậy, lớp con cháu họ lại không có ai chịu gắn bó với nghề này vì e ngại khó làm giầu, nghề mắm là nghề xấu… Chúng tôi chỉ vào thằng bé học lớp 2, cháu ông Hoãn hỏi nó có biết công thức làm mắm không, ông cời xòa bảo: “Những thằng nó mai sau đâu có chịu theo làm mắm. Mai kia chúng nó lớn lên là chúng nó kéo nhau sang Malaysia làm công nhân kiếm tiền đô thôi”. Chúng tôi nghe mà thấy chua xót trong lòng, thương nhiều nhất dành cho chính người Sa Chau lam lũ và đang thất vọng với nghề.
Một thực tế không thể phủ nhận là danh tiếng của làng mắm Sa Châu đã được nhiều người biết đến. Tuy nhiên, giờ đây, hiếm ai còn biết tới làng này nữa. Có nhiều lý do dẫn đến tình cảnh này: Thứ nhất là người làng (và cả chính quyền địa phương) không chú ý hỗ trợ xây dựng thương hiệu, nên sản phẩm không có thương hiệu riêng như mắm Cát Bà, Phan Thiết, hay Phú Quốc. Thêm vào đó, mắm Sa Châu ngày càng bị nước mắm giả lấn sân, đánh bại; Người dân thành thị nhất là người Hà Nội thường không mặn mà với mắm Sa Châu, thường chê nó nặng mùi và khó ngửi, mà không hề biết rằng, nước mắm nguyên chất, được chế biến theo phương pháp cổ truyền phải có mùi đặc trưng như thế ! Và hậu quả là làng mắm cứ tiến gần mãi đến nguy cơ diệt vong khiến nhiều người nặng lòng với làng nghề cứ đau đáu một câu hỏi, làm sao cứu được nghề ? Nhưng vẫn không có câu trả lời và với đà này thì chỉ 5-6 năm nữa là hết gia đình làm mắm ở làng Sa Châu..<